HOTLINE: 0933002266

Về độ sâu khảo sát địa chất và phạm vi đo vẽ địa chất công trình

Chuyên mục : Tin Tức
Lượt xem : 86

Giai đoạn khảo sát địa chất công trình là quá trình rất quan trọng, nó quyết định đến phương án xử lý nền đất, bản vẽ nền móng công trình và cả chất lượng sau này của công trình đó. Để được an toàn cho những dự án và đem đến cái nhìn rõ ràng hơn cho quý vị và những bạn, chúng tôi mạn phép nêu ra những vấn đề về độ sâu khảo sát và bản vẽ địa chất.

Về độ sâu khảo sát địa chất và phạm vi đo vẽ địa chất công trình

Độ sâu khảo sát

Theo tiêu chuẩn ngành 14 TCN 115-2000, độ sâu của công tác thăm dò đối với công trình trong mỗi giai đoạn khảo sát như sau:

 

Giai đoạn khảo sát

Độ sâu thăm dò

Tiền khả thi

(2 / 3¸1) H, nếu như nguyên khối đáp ứng được độ sâu 2-5m

Nghiên cứu khả thi

- Xác định giới hạn trên của tầng chứa nước (k <5 × 10 lần so với tầng trên).

- Chuyển đến lớp có khả năng thi công những nền móng công trình mà dưới tác động của những công trình không bị ảnh hưởng đến sự thay đổi trạng thái của lớp đất bên dưới.

- (2 / 3¸1) H, tình huống đặc biệt có thể sâu hơn.

Thiết kế kỹ thuật

- Đối với đập không đá: độ sâu 1 / 3m, độ sâu trung bình (2 / 3¸1) H.

- Đối với đập bê tông: khoan trên đá phong hóa nhẹ và không quá 1,5 H.

Bản vẽ thi công

Như trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật

 

Đối với giai đoạn tiền khả thi, nơi không xác định được địa tầng của khu vực, độ sâu thăm dò (2 / 3¸1) H là hợp lý, nhưng đối với những giai đoạn sau, khi biết địa tầng nên dựa trên địa tầng khối lượng đơn vị mất nước và sự phát triển của gãy kiến ​​tạo (nếu có). Thông thường khi khoan tại công trường nơi đập được xây dựng, nước trong lỗ khoan được kiểm tra cùng một lúc. Sau đó, đối với những giai đoạn sau, độ sâu khoan ít hơn 0,01 l / m chiều sâu nước liên tục trong ba phần (5 m mỗi phần) sẽ được dừng lại.

 

Những đập lớn thường được kết hợp với những cột nước lớn. Nếu quy định (2 / 3¸1) là không khả thi về mặt kinh tế nếu mặt đất là magma rắn ít nứt hoặc không an toàn nếu nó là đá trầm tích chặn lớp yếu trong khu vực chuyển động kiến ​​tạo mạnh mẽ trong quá khứ. Thêm vào đó, khi đập có lỗi kiến ​​tạo cắt qua và có lỗ khoan gặp ở độ sâu nào đó, cần phải nghiên cứu cẩn thận vùng hủy hoặc chiều dài lớp bùn, dựa trên chiều dài bắt được và góc nghiêng để thay đổi chiều rộng của lỗi. Những thông số này rất quan trọng trong việc dự đoán khả năng phát thải của động đất, sẽ được thảo luận thêm bên dưới.

Tham khảo : những lỗi thường thấy trong khảo sát địa chất

Phạm vi công trình khảo sát địa chất

Theo tiêu chuẩn ngành 14 TCN 115-2000, phạm vi khảo sát địa chất đối với những hồ chứa và đập trong giai đoạn khảo sát như sau:

 

Giai đoạn khảo sát

Hồ chứa

Đập

Tiền khả thi

Cao hơn MNDBT 2¸5m  (hồ chứa trung bình)

Chiều cao của khu vực ảnh hưởng đến chính sách đầu tư của dự án

Trên thượng lưu, hạ lưu 2H từ chân của công trình

Trên vai 1H nhưng không quá phần đỉnh đồi

Nghiên cứu khả thi

như trong giai đoạn tiền khả thi

Trên vai 1H nhưng không quá đỉnh đồi

Đến phía thượng, hạ lưu 4H từ chân của tòa nhà

Thiết kế kỹ thuật

Bản vẽ chỉ trong những trường đặc biệt

Không có bản vẽ

Bản vẽ thi công

Không có bản vẽ

Không có bản vẽ

 

Dữ liệu của 2H, 4H ở thượng nguồn, hạ lưu và 1H hướng về vai đập được dựa trên nhiều năm kinh nghiệm từ nhiều dự án. Cho đến nay, không có cơ sở để thay đổi giới hạn định lượng của khu vực khảo sát, nhưng chúng tôi nghĩ rằng đối với những đập lớn, nhằm tăng an toàn để giảm sai sót, Phạm vi của cuộc khảo sát cần được mở rộng để bao gồm phát hiện những khối trượt, nguy cơ lũ quét, và khả năng mất nước qua những thung lũng sông lân cận.

 

Đó là một vài vấn đề trong việc xác định độ sây khảo sát địa chất cũng như phạm vi đo vẽ mà chúng tôi đã tổng hợp lại cho quý vị. Cám ơn quý vị đã theo dõi bài viết.

Tag : xu ly nen mong