HOTLINE: 0933002266

Những phương pháp thí nghiệm hiện trường

Chuyên mục : Tin Tức
Lượt xem : 60

Tham khảo các phương pháp thử nghiệm thực địa theo Phụ lục E của TCVN 9363-2012 - Điều tra địa kỹ thuật cho các công trình cao tầng. Kiểm tra thực địa trong điều kiện thực tế sẽ cung cấp dữ liệu chính xác nhất. Các thí nghiệm ở thực tế, hiện trường được tiến hành đồng thời với quá trình khoan khảo sát địa chất như kiểm tra SPT, CPT hoặc cắt lỗ khoan.

 

E.10 Khi khảo sát thiết kế kỹ thuật và thi công móng cọc, công tác kiểm tra tĩnh được tiến hành để xác định khả năng chịu tải của cọc đơn và các phương pháp khác để kiểm tra chất lượng của cọc. Đóng cọc. Khối lượng và thông số kỹ thuật phải tuân theo các tiêu chuẩn liên quan hiện hành.

 

E.9 Trong một số trường hợp, nó là cần thiết để xác định các tầng hoặc túi khí trong đất mà có khả năng gây ngộ độc hoặc nổ khi khoan cọc hoặc đào hố sâu.

 

E.8. Xác định độ bền của đất: Thực hiện trong lỗ khoan sâu để cung cấp các thông số thiết kế chống sét và nối đất.

 

E.7 Giám sát nước để xác định sự thay đổi mực nước ngầm trong khu vực khảo sát. Chế độ nước trong đất được đo bằng hai loại thí nghiệm:

 

E.7.1 Đo mực nước tĩnh (standpipe): Độ sâu của đường ống nhỏ hơn 15 m để cung cấp thông tin về chế độ nước mặt. Đo nước cho phép thâm nhập bên trong toàn bộ chiều dài. Kết quả đo được sử dụng cho thiết kế khai quật, tường tầng hầm và phương pháp khoan nền móng được đề xuất.

Tham khảo : nguyên nhân khiến nhà nghiêng nứt sụp lún

 

E.7.2. Đo áp lực nước theo độ sâu (ống piezometer): Độ sâu của đầu đo phụ thuộc vào thành phần địa tầng và vị trí của tầng chứa nước. Kết quả đo được sử dụng cho thiết kế thi công cọc, tường trong đất, giải pháp thi công bằng công nghệ ướt (chọn công nghệ thi công thích hợp).

 

E.6. Sự hấp thụ nước từ lỗ khoan được sử dụng để xác định lưu lượng, hệ số thấm, bao gồm đất trong hố móng, độ dốc thủy lực và khả năng tạo áp lực thủy động lực cho công trình chống thấm và chống thấm cho tường và đáy hố móng, công tác thiết kế hạ thấp mực nước ngầm.

 

E.5. Thí nghiệm ép nước trong hố khoan được sử dụng để xác định độ thẩm thấu, khả năng hấp thụ nước của đá bị nứt. Bản chất của phương pháp thử nghiệm là cô lập từng phần của lỗ bằng các nút chuyên dụng, sau đó nhấn nước vào các phần mặt đất tách ra khỏi chế độ áp suất quy định khoan khảo sát địa chất.

 

E.4 Thí nghiệm nén ngang trong hố khoan được sử dụng cho đất lỏng và đất dính và có sẵn ở các độ sâu khác nhau để xác định các đặc điểm biến dạng và mô đun biến dạng ngang của đá.

 

E.3 Thí nghiệm cắt cánh được thực hiện trong đất với trạng thái mềm đến chất lỏng trong lỗ khoan để xác sức kháng cắt không thoát nước của đất, cung cấp thêm thông tin cho thiết kế và thử nghiệm. Các công trình ngầm không có nhiều chiều sâu.

 

E.2 Phép thử mặt cắt ngang SPT là một thí nghiệm cắt ngang được thực hiện trong một lỗ khoan, được sử dụng làm cơ sở để phân chia các lớp đá, xác định mật độ đất cát, trạng thái đất sét, Xác định vị trí đất của đầu cọc, tính toán khả năng chịu lực của cọc, cũng như thiết kế nền móng nông ... Thí nghiệm này cũng được sử dụng để xác định độ sâu các lớp đất khảo sát, đánh giá khả năng của đất hoá lỏng nước bão hòa.

 

E.1 Các phép thử mặt cắt ngang tĩnh có thể được thực hiện để làm rõ tính đồng nhất của địa tầng, các đặc tính biến dạng và khả năng chịu lực của đất, khả năng chịu tải của cọc đơn. đất dính và đất không bị sỏi. Mục đích của thí nghiệm này là cung cấp thêm thông tin cho việc thiết kế và xây dựng các tầng đất ngầm sâu.

 

Trong các thí nghiệm trên, tiêu chuẩn SPT luôn luôn được thực hiện trong hố tại tất cả các địa điểm.

 

Dữ liệu trường SPT phản ánh chính xác trạng thái của đất trong thực địa của khoan khảo sát địa chất.